Sơ lược về lịch sử huyện Phú Tân

Tin tức tổng họp

- huyện Phú Tân tồn tại đến ngày 17 tháng 5 năm 1984[1]

  • Quyết định 326-CP[2] ngày 29 tháng 12 năm 1978 của Hội đồng Chính phủ phê chuẩn (về nguyên tắc) việc phân vạch địa giới hành chính huyện Phú Tân thuộc tỉnh Minh Hải, huyện Phú Tân (mới thành lập) có 16 xã, 1 thị trấn huyện lỵ.

-Phía bắc giáp huyện Trần Thời, phía đông giáp huyện Cái Nước, phía tây và tây nam giáp Vịnh Thái Lan, phía nam giáp huyện Năm Căn.

  • Quyết định 275-CP[3] ngày 25 tháng 07 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ điều chỉnh địa giới một số xã của huyện Phú Tân thuộc tỉnh Minh Hải:
  1. Chia xã Tân Hưng Tây thành hai xã lấy tên là xã Tân Hưng Tây và xã Tân Hải.
  2. Chia xã Việt Khái thành ba xã lấy tên là xã Việt Khái, xã Việt Hùng và xã Việt Thắng.
  3. Chia xã Phú Mỹ A thành ba xã lấy tên là xã Phú Mỹ A, xã Phú Thành và xã Phú Thuận.
  4. Chia xã Phú Mỹ B thành hai xã lấy tên là xã Phú Hòa và xã Phú Hiệp.
  5. Thị trấn Cái Đôi nay đổi tên là thị trấn Phú Tân.
  • Quyết định 23-HĐBT[4] ngày 28 tháng 3 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng phân vạch địa giới thị trấn Phú Tân và các xã Tân Hải, Việt Khái thuộc huyện Phú Tân, tỉnh Minh Hải:
  1. Chia thị trấn Phú Tân thành hai đơn vị hành chính mới lấy tên là thị trấn Phú Tân và xã Tân Phong.
  2. Chia xã Tân Hải thành hai xã lấy tên là xã Tân Hải và xã Tân Nghiệp.
  3. Chia xã Việt Khái thành ba xã lấy tên là xã Việt Khái, xã Việt Dũng và xã Việt Cường.
  • Quyết định 75-HĐBT[1] ngày 17 tháng 5 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng sáp nhập huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành một huyện lấy tên là huyện Cái Nước.

- huyện Phú Tân mới thành lập ngày 17 tháng 11 năm 2003[5]

  • Nghị định 138/2003/NĐ-CP[5] ngày 17 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về việc thành lập huyện Phú Tân trên cơ sở 44.595 ha diện tích tự nhiên và 109.642 nhân khẩu của huyện Cái Nước.
  1. Huyện Phú Tân có 44.595 ha diện tích tự nhiên và 109.642 nhân khẩu; có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã Phú Mỹ, Phú Tân, Tân Hải, Việt Thắng, Tân Hưng Tây, Nguyễn Việt Khái và thị trấn Cái Đôi Vàm.
  2. Địa giới hành chính huyện Phú Tân : Đông giáp huyện Cái Nước; Tây giáp biển Đông; Nam giáp huyện Năm Căn; Bắc giáp huyện Trần Văn Thời.
  3. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập huyện Phú Tân, huyện Cái Nước còn lại 39.514 ha diện tích tự nhiên và 136.619 nhân khẩu; có 8 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã Lương Thế Trân, Phú Hưng, Hưng Mỹ, Tân Hưng, Tân Hưng Đông, Đông Thới, Trần Thới và thị trấn Cái Nước.
  • Nghị định 192/2004/NĐ-CP[6] ngày 23 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về việc thành lập xã thuộc các huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau:
  1. Thành lập xã Phú Thuận thuộc huyện Phú Tân trên cơ sở 3.925 ha diện tích tự nhiên và 11.359 nhân khẩu của xã Phú Mỹ.
  2. Thành lập xã Rạch Chèo thuộc huyện Phú Tân trên cơ sở 4.450 ha diện tích tự nhiên và 9.998 nhân khẩu của xã Tân Hưng Tây

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông: Xác định mục tiêu chiến lược hợp lý


Bao ve chu quyen Bien Dong: Xac dinh muc tieu chien luoc hop ly

         - Nếu thỏa hiệp, e ngại trước sức ép của Trung Quốc và không hoạch định được một chiến lược hợp lý, Việt Nam sẽ luôn ở trong tình trạng bị động đối phó và dần dần sẽ mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, phần lớn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông.

         Theo phân tích của chủ nhiệm bộ môn luật Quốc tế, giám đốc trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế, khoa luật – đại học Quốc gia Hà Nội, một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay là xác định mục tiêu chiến lược để bảo vệ vững chắc chủ quyền ở Biển Đông.

Xác định được mục tiêu chiến lược hợp lý có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là định hướng cho việc hoạch định chiến lược và đề ra những biện pháp cần thiết trước mắt và trong những thập kỷ tới, góp phần làm phá sản tham vọng thôn tính Biển Đông của Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, góp phần giữ gìn hòa bình và an ninh trong khu vực và trên thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, mục tiêu chiến lược của chúng ta cần bao gồm bốn bộ phận cấu thành.

Thứ nhất, mục tiêu hàng đầu là bảo vệ bằng được thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Thực chất của nhiệm vụ này là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài nguyên dầu khí và tài nguyên cá. Đây là khu vực vực biển thuộc sổ đỏ quốc gia, là quyền đương nhiên của các quốc gia ven biển theo Công ước Luật biển 1982 của Liên hiệp quốc, không một ai có thể cướp đoạt được. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý với bất cứ giá nào, không được nhân nhượng. Chỉ cần một nhân nhượng nhỏ là chúng ta sẽ mất tất cả.

Trọng tâm nhiệm vụ là ngăn chặn việc Trung Quốc cho tàu vào quấy phá các hoạt động thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của các phương tiện Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế; đồng thời ngăn chặn âm mưu của Trung Quốc đặt giàn khoan hay những cấu trúc nhân tạo đầu tiên trên thềm lục địa của Việt Nam. Chúng ta cần dồn toàn bộ lực lượng, mọi phương tiện và tiến hành mọi biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý và quân sự cần thiết để đạt mục tiêu này với bất cứ giá nào. Hành vi gây hấn như đối với tàu Bình Minh 2 ngày 26.5 hay đối với tàu Viking II ngày 9.6 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, nếu để tiếp tục tái diễn, sẽ tạo ra tiền lệ rất xấu và hết sức nguy hiểm. Một giàn khoan hay cấu trúc nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc, nếu đặt được trên thềm lục địa của Việt Nam sẽ giống như một “lỗ thủng” trên tuyến đê phòng ngự thềm lục địa. Nếu để xảy ra sự cố này, toàn bộ tuyến đê phòng ngự có thể bị sụp đổ, không cứu vãn được.

Thứ hai, kìm chân Trung Quốc trên các đảo ở quần đảo Hoàng Sa, không để Trung Quốc áp dụng điều 47 Công ước Luật biển năm 1982, lấy quần đảo Hoàng Sa làm các điểm cơ sở để xác lập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý trùm lên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Để đạt mục tiêu này, chúng ta cần sử dụng các căn cứ lịch sử và pháp lý vững chắc nhằm tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này

Có thể trong nhiều năm nữa, chúng ta chưa thể thu hồi được quần đảo Hoàng Sa, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta mất chủ quyền đối với quần đảo này. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo là một hành động vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và Công ước Luật biển năm 1982, nên không có giá trị xác lập chủ quyền. Chính vì vậy, chúng ta phải đấu tranh bền bỉ, không được lùi bước, không được nhân nhượng. Chỉ cần chứng minh cho thế giới thấy rằng quần đảo Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam với đầy đủ những căn cứ lịch sử và pháp lý, chúng ta cũng đã có thể bước đầu ngăn bước tiến của Trung Quốc vào khu vực thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Thứ ba, đồng thời với việc tiếp tục hoàn thiện bộ hồ sơ pháp lý với đầy đủ các chứng cứ và lập luận khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, trên thực tế, chúng ta cần đấu tranh giữ nguyên trạng tại khu vực quần đảo này. Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần liên kết với các nước khác là các bên tranh chấp để tạo ra đối trọng với Trung Quốc; đồng thời kìm chân Trung Quốc trên các điểm mà họ đang chiếm giữ trái phép, không để Trung Quốc lấy quần đảo Trường Sa làm điểm cơ sở (áp dụng điều 47 Công ước Luật biển năm 1982) để xác lập các vùng biển lấn sâu vào vùng biển phía Tây Nam của Việt Nam. Mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được vì giữ nguyên trạng Trường Sa cũng là mong muốn của các nước tranh chấp khác trong khu vực.

Cuối cùng, xác định phạm vi 12 hải lý cho các đảo ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên cơ sở vận dụng quy định của luật Biển quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là điều 121 Công ước Luật biển 1982, theo đó những đảo không có điều kiện cho con người sinh tồn và không có đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thực hiện được mục tiêu này sẽ giúp chúng ta thu hẹp đến hơn 95% diện tích của khu vực tranh chấp trên Biển Đông; đồng thời góp phần kìm chân Trung Quốc trên các đảo mà họ đang chiếm giữ ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 
Biển Đông
 

- Trung Quốc có lẽ là một trong số ít quốc gia có nhiều cuộc tranh chấp lãnh hải nhất với các nước láng giềng xung quanh. Khi sức mạnh và ảnh hưởng gia tăng, Trung Quốc đã áp dụng một cách tiếp cận “hiếu chiến” trong những cuộc tranh chấp này. Nếu không thay đổi, Trung Quốc có thể sẽ tự làm mình bị cô lập trong khu vực.
 
Tranh chấp ở Biển Đông
 
Biển Đông là nơi chứng kiến nhiều cuộc đối đầu nóng bỏng nhất giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Hiện tại, Trung Quốc đang có tranh chấp lãnh hải ở khu vực Biển Đông với một loạt nước gồm Philippine, Việt Nam, Brunei, Malaysia và Vùng lãnh thổ Đài Loan.
 
Biển Đông vốn là khu vực giàu dầu mỏ, khí đốt và là nơi có nhiều tuyến đường hàng hải chiến lược quan trọng. Vì tầm quan trọng của Biển Đông, Trung Quốc có tham vọng độc chiếm khu vực biển này. Điều đó đã được thể hiện rõ qua lập trường, chính sách và những hành động của Trung Quốc trong thời gian vài năm trở lại đây.
 
Liên tiếp trong hai năm qua, Trung Quốc đã có hai cuộc đối đầu căng thẳng và kéo dài với Việt Nam và Philippine vì tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông.
 
Người dân thế giới chắc vẫn chưa thể quên được vụ các tàu hải giám Trung Quốc ngang ngược tiến sâu vào vùng biển Việt Nam để phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò, khảo sát của tàu thuyền Việt Nam. Vụ vi phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam này của phía Trung Quốc đã gây ra một trận sóng to gió lớn ở Biển Đông vào những tháng giữa năm 2011.
 
“Cơn bão” Biển Đông hồi năm ngoái được châm ngòi từ sự kiện hôm 26/5 khi ba tàu hải giám Trung Quốc xông vào cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN). Vào thời điểm đó, tàu Bình Minh 02 đang khảo sát địa chấn trong vùng thềm lục địa của Việt Nam.
 
Khi vụ việc trên còn chưa được giải quyết thì chỉ chưa đầy 2 tuần sau, vào sáng ngày 9/6/2011, tàu cá Trung Quốc dưới sự yểm trợ của 2 tàu ngư chính đã cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển thuộc thềm lục địa Việt Nam.
 
Những hành động táo tợn liên tiếp của phía Trung Quốc đã đẩy mối quan hệ giữa nước này với Việt Nam rơi vào căng thẳng cao độ trong một thời gian khá dài.
 
Không chỉ quấy nhiễu tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền Trung Quốc còn bị tố cáo xâm phạm vùng lãnh hải của Philippine. Những hành động này của phía Trung Quốc đã “đun sôi” nước Biển Đông.
 
Sau một thời gian sóng yên gió lặng, Trung Quốc lại khuấy động khu vực Biển Đông bằng một cuộc đối đầu quyết liệt với Philippine ở bãi cạn Scarborough ngay trong những tháng đầu của năm 2012.
 
“Cơn bão” mới ở Biển Đông bắt nguồn từ hôm 8/4, khi một máy bay do thám của Hải quân Philippine phát hiện 8 tàu đánh cá của Trung Quốc lượn lờ đánh bắt cá ở khu vực bãi cạn Scarborough. Ngay lập tức, tàu chiến lớn nhất của Philippine thuộc lớp Hamilton đã đến khu vực để kiểm tra tàu thuyền Trung Quốc. Lực lượng Hải quân Philippine đã phát hiện nhiều san hô, sinh vật biển, trong đó có cá mập vẫn còn sống, trên một trong những con tàu của Trung Quốc. Khi tàu Philippine chưa kịp hành động thì hai tàu hải giám của Trung Quốc đã nhanh chóng xuất hiện. Hai con tàu này ngang nhiên đi vào chắn giữa tàu của Hải quân Philippine và những con tàu đánh cá của Trung Quốc để ngăn không cho Philippine bắt giữ các ngư dân của họ.
 
Vụ việc lùm xùm trên chưa được giải quyết thì chỉ hơn một tuần sau đó, vào ngày 17/4, tàu nghiên cứu khảo cổ của Philippine lại “tố” bị tàu hải giám và máy bay tuần tra Trung Quốc quấy nhiễu và ngăn cản không cho là nhiệm vụ ở bãi cạn Scarborough.
 
Hai vụ va chạm tàu thuyền mới nhất và cũng là đầu tiên xảy ra trong năm nay giữa Trung Quốc và Philippine ở khu vực tranh chấp đã kéo theo một loạt những động thái căng thẳng và đáng lo ngại sau đó.
 
Trong suốt thời gian kéo dài hơn một tháng qua, Bắc Kinh đã dùng những lời lẽ mạnh mẽ nhất và gay gắt nhất để chỉ trích Manila. Không dừng lại ở đó, Bắc Kinh còn có nhiều động thái uy hiếp, đe dọa nhằm làm nhụt chí Manila trong cuộc tranh chấp lãnh hải với họ ở Biển Đông. Mặc dù đã triển khai một số lượng lớn tàu thuyền ra vùng tranh chấp để áp đảo đối phương đồng thời tung ra những lời cảnh báo sắc lạnh về một cuộc xung đột vũ trang, Trung Quốc cũng không thể khiến Philippine lùi bước. Chính vì thế, cuộc đối đầu mới nhất ở Biển Đông hiện nay vẫn chưa có dấu hiệu dịu đi.
 
Những động thái của Trung Quốc trong thời gian qua đã phơi bày tham vọng độc chiếm Biển Đông của nước này. Bản thân Trung Quốc trước đó đã đưa ra yêu sách đường lưỡi bò (9 đoạn) vô căn cứ của nước này. Theo đó, họ đòi chủ quyền với gần như toàn bộ Biển Đông. Tham vọng của nước này là biến khu vực Biển Đông chiến lược giàu tài nguyên thành “ao nhà” của họ.
 
Tranh chấp ở biển Hoa Đông
 
Ngoài tranh chấp lãnh hải với một loạt nước ở Biển Đông, Trung Quốc còn có tranh chấp lãnh hải với Nhật Bản ở biển Hoa Đông.
 
Cả Bắc Kinh và Tokyo đều đòi chủ quyền đối với một quần đảo ở biển Hoa Đông mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, còn Nhật Bản thì gọi là Senkaku. Chùm đảo này nằm giữa Nhật Bản và Đài Loan. Cuộc tranh chấp xung quanh quần đảo Senkaku là nguyên nhân chính dẫn đến mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong nhiều thập kỷ nay. Senkaku là quần đảo có nguồn cá dồi dào và có thể có cả dầu mỏ. Quần đảo này gần với các tuyến đường biển quan trọng.
 
Hồi tháng 9 năm 2010, Nhật Bản từng bắt giữ một thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc ở khu vực gần đảo Senkaku. Vụ việc này đã đẩy quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản vào tình trạng căng thẳng nghiêm trọng nhất trong nhiều năm trở lại đây.
 
Sau khi Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc, Bắc Kinh đã nổi giận tung ra một loạt các biện pháp đáp trả như thắt chặt các hạn chế thương mại, huỷ các cuộc tiếp xúc, trao đổi về văn hoá, chính trị... giữa hai nước. Đặc biệt, Trung Quốc còn tuyên bố ngừng việc xuất khẩu đất hiếm sang nước láng giềng. Đất hiếm rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất công nghệ cao ở Nhật Bản.
 
Cuộc khủng hoảng trên sau đó đã được giải quyết khi Nhật Bản thả thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc. Tuy nhiên, hai nước này vẫn thỉnh thoảng lại lục đục với nhau vì cuộc tranh chấp ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
 
Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục có những hành động hung hăng, hiếu chiến như trong thời gian qua, nước này sẽ đẩy các nước láng giềng ngày càng xa họ. Đây là điều hoàn toàn không có lợi cho sự phát triển của cường quốc Châu Á này.